 |
|
|
QUY TRÌNH
Tiếp nhận Nguyên
liệu ---> Muối cá (2 lần) ---> Chăm sóc chượp ---> Kéo rút
nước mắm ---> Lắng lọc ---> Đóng chai, dán nhãn ---> Vào thùng.
THUYẾT MINH QUY TRÌNH 1. Nguyên liệu
chế biến: là cá biển và muối NaCl. 2. Dụng cụ chế biến: là thùng gỗ
(bằng lăng,...) và mái vú (bằng sành), cá được náo đảo liên tục đến khi
chượp (tức là muối) chín tiến hành kéo rút liên hoàn. 3. Thời gian
chượp chín: từ 8 tháng trở lên. 4. Các bước tiến hành tóm tắc theo
quy trình trên.
CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN NƯỚC MẮM
Nước mắm là dung dịch đạm mà chủ yếu là các acid amin, được tạo thành do quá trình thủy phân protein cá nhờ hệ enzym protease có trong cá. Ngoài ra nước mắm còn dùng để chữa một số bệnh như đau dạ dày, phỏng, cơ thể suy nhược, cung cấp năng lượng. Nước mắm được sản xuất ở hầu hết các nước Châu Á. Mỗi nước có kiểu sản xuất khác nhau tạo ra sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị cảm quan khác nhau
Giá trị dinh dưỡng của nước mắm Các chất đạm Chiếm chủ yếu và quyết định giá trị dinh dưỡng của nước mắm. Gồm 3 loại đạm - Đạm tổng số: là tổng lượng nitơ có trong nước mắm (g/l), quyết định phân hạng của nước mắm. - Đạm amin: là tổng lượng đạm nằm dưới dạng acid amin (g/l), quyết định giá trị dinh dưỡng của nước mắm - Đạm amon: càng nhiều nước mắm càng kém chất lượng Ngoài ra trong nước mắm còn chứa đầy đủ các acid amin, đặc biệt là các acid amin không thay thế: valin, leucin, methionin, isoleucin, phenylalanin, alanin.v.v .. Các thành phần khác có kích thước lớn như tripeptid, peptol, dipeptid. Chính những thành phần trung gian này làm cho nước mắm dễ bị hư hỏng do hoạt động của vi sinh vật. Thành phần dinh dưỡng của nước mắm phụ thuộc vào nguyên liệu đem đi chế biến. Các chất bay hơi Rất phức tạp và quyết định hương vị của nước mắm. Hàm lượng các chất bay hơi trong nước mắm mg/100g nước mắm - Các chất cacbonyl bay hơi: 407-512 (formaldehyde) - Các acid bay hơi: 404-533 (propionic) - Các amin bay hơi: 9,5-11,3 (izopropylamin) - Các chất trung tính bay hơi: 5,1-13,2 (acetaldehyde) Mùi trong nước mắm được hình thành chủ yếu do hoạt động của vi sinh vật yếm khí trong quá trình sản xuất nước mắm tạo ra. Các chất khác - Các chất vô cơ: NaCl chiếm 250-280g/l và một số các chất khoáng như: S, Ca, Mg, P, I, Br. - Vitamin: B1, B12, B2, PP. Quá trình thủy phân của cá Bản chất của quá trình sản xuất
nước mắm
Bản chất của quá trình này chính là quá trình thủy phân protein đến acid amin.
Sản phẩm chủ yếu của quá trình phân giải protein là acid amin và
các peptid cấp
thấp.
Theo nghiên cứu của Beddow, ba bước tạo thành và chuyển hóa hợp
chất ES tương ứng
với 3 chặng đường biến đổi hợp chất nitrogen trong quá trình
thủy phân cá.
- Pha 1 (0 - 25 ngày): Có sự gia tăng thể tích của phần chất
lỏng nổi ở trên bề
mặt sản phẩm và protein hòa tan.
- Pha 2 (80 - 120 ngày): Mô tế bào bị phá vỡ, protein của tế bào
trở nên tiếp xúc
với enzym, sản phẩm của quá trình tự phân protein được phóng
thích. Hầu như tất
cả mô tế bào đều bị phân hủy và biến mất sau 120 - 140 ngày. -
Pha 3 (140 - 200
ngày): Enzym phóng thích và tấn công vào các phần protein hòa
tan. Đây là nguyên
nhân làm thay đổi hợp chất Nitơ.
Ngoài ra đường, chất béo cũng bị phân giải thành rượu và các
acid hữu cơ.
Các hệ enzym trong sản xuất nước mắm
Gồm 3 hệ enzym lớn
a. Hệ enzym Metalo-protease (Aminodipeptidase)
Hệ enzym này tồn tại trong nội tạng của cá và chịu được nồng độ
muối cao nên ngay
từ đầu nó đã hoạt động mạnh, giảm dần từ tháng thứ 3 trở về sau.
Loại enzym này
có hoạt tính khá mạnh, có khả năng thủy phân rộng rãi đối với
các loại peptid. Đây
là nhóm thủy phân enzym trung tính, pH tối thích từ 5-7, pI =
4-5, nó ổn định với
ion Mg2+, Ca2+và mất hoạt tính với Zn2+, Ni2+, Pb2+, Hg2+..
b. Hệ enzym serin-protease
Điển hình là enzym tripsin, tồn tại nhiều trong nội tạng của cá.
Ở giai đoạn đầu
của quá trình sản xuất nước mắm hoạt động của nó yếu đến tháng
thứ 2 và phát triển
dần đạt giá trị cực đại ở tháng tứ 3 rồi giảm dần đến khi chượp
chín (protein phân
giải gần như hoàn toàn không còn ở dạng peptol). Hệ enzym này
luôn bị ức chế bởi
chuỗi acid amin trong cấu trúc của enzym. Để tháo gỡ chuỗi này
phải nhờ đến hoạt
động của men cathepsin B nhưng men cathepsin B dễ bị ức chế bởi
nồng độ muối cao.
Vì vậy để men cathepsin B hoạt động được người ta thực hiện
phương pháp cho muối
nhiều lần. Enzym serin-protease hoạt động mạnh ở pH từ 5-10,
mạnh nhất ở pH=9.
c. Hệ enzym acid-protease
Có trong thịt và nội tạng cá, điển hình là enzym cathepsin D. Hệ
enzym này dễ bị
ức chế bởi nồng độ muối khoảng 15% nên thường nó chỉ tồn tại một
thời gian ngắn
ở đầu thời kỳ của quá trình thủy phân. Loại men này đóng vai trò
thứ yếu trong quá
trình sản xuất nước mắm.
Vi sinh vật trong sản xuất nước mắm
- Nguồn gốc: có từ nguyên liệu, dụng cụ, thiết bị, môi trường
(không khí, nước).
Khi vi sinh vật xâm nhập vào chượp có các ảnh hưởng sau:
- Tham gia vào quá trình thủy phân protein nhưng rất yếu vì bị
ức chế bởi nồng độ
muối cao.
- Tham gia tích cực vào việc hình thành hương vị của nước mắm,
chủ yếu là các vi
sinh vật kỵ khí có khả năng sinh hương.
Nhân tố ảnh
hưởng đến quá trình chế biến nước mắm Nhiệt độ
Nhiệt độ tăng vận tốc phản ứng tăng, đến một nhiệt độ nào đó sẽ
không tăng nữa và
có thể giảm xuống do nhiệt độ cao làm cho hệ enzym
serin-protease mất hoạt tính.
Quá trình thủy phân kém.
- Nhiệt độ 30 - 47oC thích hợp cho quá trình chế biến chượp.
- Nhiệt độ 70oC trở lên hầu hết các hệ enzym trong cá mất hoạt
tính.
Nâng nhiệt độ của chượp lên bằng cách phơi nắng, nấu hoặc sử
dụng tôn nóng để che
phân xưởng. PH
Mỗi hệ enzym có pH tối thích khác nhau, vì vậy phải xem loại
enzym nào nhiều nhất
và đóng vai trò chủ yếu nhất trong quá trình sản xuất nước mắm
để tạo pH thích hợp
cho enzym đó hoạt động. Qua thực nghiệm cho thấy:
pH môi trường tự nhiên từ 5,5-6,5 enzym tripsin và pepsin hoạt
động được, đồng thời
ở pH này có tác dụng ức chế một phần vi khuẩn gây thối. Vì vậy ở
môi trường tự nhiên
có pH thích hợp cho quá trình sản xuất nước mắm hơn. Lượng
muối
Muối là nguyên liệu quan trọng cho quá trình sản xuất nước mắm,
thiếu muối nước
mắm không hình thành được. Yêu cầu của muối trong sản xuất nước
mắm phải là loại
muối ăn, càng tinh khiết càng tốt, kết tinh hạt nhỏ có độ rắn
cao, màu trắng óng
ánh (không vón cục, ẩm ướt, vị đắng chát).
- Nồng độ muối thấp có tác dụng thúc đẩy quá trình thủy phân
protein nhanh hơn,
chượp mau chín.
- Nồng độ muối quá cao có tác dụng ức chế làm mất hoạt tính của
enzym, quá trình
thủy phân chậm lại, thời gian thủy phân kéo dài (protein bị kết
tủa bởi muối trung
tính bão hòa).
Để chế biến chượp nhanh cần xác định lượng muối cho vào trong
chượp là bao nhiêu
và lượng muối này phải thõa mãn 2 điều kiện:
- Không mặn quá để tránh ức chế hoạt động của enzym.
- Không nhạt quá để có đủ khả năng ức chế sự phát triển của vi
khuẩn gây thối.
Thường lượng muối cho vào khoảng 20-25% so với khối lượng cá.
Nên thực hiện phương
pháp cho muối nhiều lần và cần phải xác định số lần cho muối, tỉ
lệ muối của mỗi
lần và khoảng cách giữa các lần cho muối để không ảnh hưởng đến
quá trình sản xuất
nước mắm. Diện tích tiếp xúc
Muốn phản ứng xảy ra nhanh phải có sự tiếp xúc tốt giữa enzym và
cơ chất. Các enzym
trong cá tập trung nhiều ở nội tạng, nên để tăng tốc độ thủy
phân người ta tìm cách
tăng diện tích tiếp xúc giữa enzym và thịt cá. Có thể dùng các
biện pháp:
- Phương pháp xay nhỏ cá:
+ Xay nhỏ cá diện tích tiếp xúc sẽ lớn nhưng protein dễ bị biến
tính do tác dụng
cơ học.
+ Enzym phân tán nhưng phân tán rất rộng ra môi trường nước làm
cho nồng độ enzym
loãng ra. Khi chượp chín đem kéo rút sẽ gặp hiện tượng tắt lù.
- Phương pháp đập dập: Cá đập dập sẽ giữ được hình dạng ban đầu,
cơ thịt bên trong
bị mềm ra, tổ chức cơ thịt lỏng lẻo giúp enzym dễ ngấm vào trong
thịt. Cá đập dập
xương cá không bị vỡ vụn, khi chượp chín kéo rút dễ dàng.
- Phương pháp cắt khúc: thịt cá vẫn còn chắc nên enzym khó ngấm
vào hơn phương pháp
đập dập, protein ở mặt ngoài dễ bị biến tính do tiếp xúc với
dung dịch có nồng độ
muối cao.
Như vậy để tăng diện tích tiếp xúc sử dụng phương pháp đập dập
kết hợp với đánh
khuấy chượp là tốt nhất. Bản thân nguyên liệu
Những loài cá khác nhau, thành phần hóa học và cấu trúc cũng
khác nhau, nhất là
hệ enzym trong cá vì vậy tạo ra loại nước mắm có chất lượng khác
nhau.
- Cá tươi chế biến chất lượng tốt hơn cá ươn.
- Loại cá có kết cấu cơ thịt lỏng lẽo, mềm mại, ít vảy dễ chế
biến hơn loại cá cứng,
chắc, nhiều vảy.
- Nếu cá có nhiều mỡ thì nước mắm có mùi ôi khét khó chịu, mùi
chua (do sự thủy
phân chất béo thành acid béo và glycerid) hoặc khét do oxy hóa
chất béo.
- Cá sống ở tầng nước mặt và giữa như cá thu, cá cơm, cá nục, cá
mòi... cho chất
lượng nước mắm tốt nhất vì nó ăn được thức ăn ngon nên dinh
dưỡng và thành phần
đạm cao.
- Cá sống ở tầng nước dưới và tầng đáy như cá phèn, cá mối cho
nước mắm có chất
lượng kém vì thiếu thức ăn (ăn rong, rêu, bùn hoặc thực vật dưới
đáy) làm cho thịt
cá thiếu dinh dưỡng và bụng cá có bùn đất ảnh hưởng đến màu sắc
nước chượp Chỉ tiêu đánh giá chượp chín
* Cảm quan
- Màu sắc: màu nâu tươi, nâu xám hoặc xám. Riêng nước cốt có màu
vàng rơm đến cánh
gián.
- Mùi thơm đặc trưng, không có mùi chua, mùi lạ.
- Trạng thái
+ Đối với chượp gài nén: cá còn nguyên con, nếu sẽ ra thịt cá
tách khỏi xương, nếu
khuấy thịt sẽ nát vụn.
+ Đối với chượp đánh khuấy: cá nát nhuyển, cái chượp sáng, khi
đánh khuấy không
có hiện tượng sủi bọt.
* Hóa học: có 2 yếu tố
Tỉ lệ nitơ amin trên đạm toàn phần của nước cốt.
+ Đối với chượp cá nổi tỉ lệ này > 45%.
+ Đối với chượp cá đáy tỉ lệ này > 40%.
Bảo quản nước mắm
Nhờ muối và hàm lượng đạm cao, tạo áp suất thẩm thấu lớn ức chế
hoạt động của vi
sinh vật. Hàm lượng đạm cao thời gian bảo quản rất dài từ hàng
năm đến hàng chục
năm nhưng hương vị kém đi.
Dụng cụ chứa phải vệ sinh sạch sẽ
|
|
|
|